Đảo nợ là thuật ngữ thường dùng trong ngành ngân hàng nhưng không phải khách hàng nào cũng nắm rõ. Nhà nước đã có những quy định về đảo nợ trong ngân hàng tại Nghị định 94/2018/NĐ-CP. Trong Nghị định giải thích rất rõ:

Đảo nợ là việc thực hiện huy động vốn vay mới để trả trước một phần hoặc toàn bộ khoản nợ cũ.
Cụ thể đảo nợ được hiểu là khách hàng thực hiện một khoản vay mới tại cùng một ngân hàng hoặc khác ngân hàng để có tiền trả cho khoản nợ cũ đã tới hạn. Cách này được các khách hàng cá nhân, doanh nghiệp không thể trả nợ đúng hạn lựa chọn cùng với trợ giúp từ phía các nhân viên ngân hàng.
Hình thức đảo nợ ngân hàng cũng được nhiều Phòng giao dịch, Chi nhánh Ngân hàng sử dụng để che giấu nợ cũ, lùi lại thời hạn trả nợ cho khách hàng. Bản chất khách hàng vẫn tiếp tục khoản nợ cũ này, chỉ khác là bình mới rượu cũ, thay thế một khoản vay theo hình thức mới.
Đảo nợ đã được Ngân hàng Nhà nước nghiêm cấm bằng thông tư 39/2016/TT-NHNN có hiệu lực kể từ ngày 15 tháng 3 năm 2017. Quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng. Nhưng thực tế vấn nạn cho vay đảo nợ hiện nay vẫn diễn ra khá phổ biến do pháp lý chưa quy định rõ ràng, chặt chẽ, vẫn còn nhiều kẽ hỡ để lách luật.
Tình hình dịch Covid vẫn chưa được dập tắt hoàn toàn, có thể bùng phát lại bất cứ lúc nào nhất là mùa đông đã đến. Tại cuộc họp Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus Corona gây ra (COVID-19) Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam nhấn mạnh: “Cuộc chiến này còn dài, luôn sẵn sàng khi có ca nghi nhiễm hay nhiễm trong cộng đồng thì thực hiện phát hiện, truy vết người tiếp xúc, cách ly, xét nghiệm, khoanh vùng sớm nhất, quy mô nhỏ nhất ngay từ ban đầu để tiến hành dập dịch”. Do vậy các doanh nghiệp, người dân vẫn sẽ tiếp tục phải chịu ảnh hưởng tiêu cực của đợt dịch Covid-19 (như các ngành du lịch, hàng không, xuất nhập khẩu…) nếu dịch lại bùng phát trở lại, sẽ ảnh hưởng ít nhiều đến khả năng trả nợ của các Doanh nghiệp, cá nhân tại các ngân hàng. Nhiều Doanh nghiệp đợt dịch vừa qua cũng có nguy cơ phá sản, nhiều người lao động mất việc làm, nên vấn nạn đảo nợ càng có thêm đất để bùng phát mạnh mẽ hơn.
Hình thức vay đảo nợ được hiểu rõ hơn thông qua vài ví dụ sau:
Chị Nguyễn Lan A. Hộ kinh doanh cá thể tại khu phố Bạch Mai, Hai Bà Trưng, Hà Nội lựa chọn vay tại một ngân hàng Thương mại nằm ngay trên phố Bạch Mai với mục đích vay tiêu dùng, thế chấp bằng sổ đỏ của căn nhà đang ở tại Long Biên. Số tiền vay 1 tỷ, nguồn trả nợ từ doanh thu cửa hàng bách hóa đồ Thái Lan do chị A đứng tên, kỳ hạn vay 12 tháng. Đến thời hạn trả nợ khoản vay tại ngân hàng, chị A chưa có tiền để trả nợ, nếu để bình thường, không trả được nợ gốc và lãi thì khoản nợ của chị A sẽ bị đẩy thành nợ cần chú ý, rồi nợ xấu, và mất khả năng thanh khoản. Để tránh khoản nợ xấu cho Phòng giao dịch ngân hàng, nhân viên ở đây đã tư vấn cho chị A đi vay tạm bên ngoài, để trả nợ món cũ, còn Ngân hàng sẽ hỗ trợ chị A làm thủ tục vay lại để tạo thành một khoản vay mới với mục đích vay khác, nhưng thực chất vẫn là khoản vay cũ và tài sản cũ…
Hoặc để nhằm chạy chỉ tiêu tín dụng của Quý, Năm thì nhiều ngân hàng sẵn sàng tìm cách mời chào các khách hàng đang có dư nợ từ bên ngân hàng khác chuyển món vay bằng cách chiêu dụ lãi suất thấp hoặc các ưu đãi cho khách nhằm tăng dư nợ, hình thức này sẽ tiềm ẩn nhiều rủi ro cho cả khách hàng lẫn ngân hàng.
Rất nhiều hình thức đảo nợ được áp dụng, có thể trong cùng một ngân hàng, hoặc khác ngân hàng.

Vấn nạn đảo nợ tiềm ẩn nhiều rủi ro…
Với việc chạy chỉ tiêu doanh số nên nhiều Giám đốc ngân hàng thực hiện đảo nợ cho khách hàng của mình bất chấp những rủi ro có thể xảy ra, thậm chí là mất vốn…
Nhiều Doanh nghiệp tạo dựng hồ sơ khống, làm đẹp hồ sơ trong khi làm ăn không hiệu quả, dẫn đến mất khả năng thanh toán, không trả được nợ, gây nợ xấu, thiệt hại không chỉ cho ngân hàng mà còn kéo theo cả hệ lụy kiện cáo đằng sau…rất mệt mỏi cho các bên.
Với những khoản vay có nguy cơ trở thành nợ xấu, nhân viên ngân hàng sẽ tìm đủ mọi cách dụ dỗ để khách hàng tất toán khoản vay kèm lời hứa sẽ hỗ trợ khách hàng vay lại, kể cả khách hàng phải đi vay lãi ngoài rất cao. Nhưng sau đó lại không có một đảm bảo nào chắc chắn là khách hàng có thể vay lại được, trong khi tiền lãi vay ngoài giá cắt cổ, khách hàng lúc này sẽ trở nên bị động, là người phải chịu rủi ro nếu như ngân hàng không thực hiện phê duyệt khoản vay lại đó.
Trường hợp khác tương tự là cho vay dưới dạng ủy quyền như Ông T ở Đông Anh, Hà Nội, nợ ngân hàng 50tr, nhưng do cả tin vào lời nói của bà H sẵn sàng cho ông T mượn với lãi suất rất thấp để trả nợ ngân hàng, chỉ cần ông T ủy quyền cho bà H bằng chính sổ đỏ của gia đình ông. Theo đó bà H sẽ trả tiền vay hộ ông T tại ngân hàng và cho ông vay với lãi suất thấp. Tin lời bà H, ông T chẳng hay biết gì, cứ thế ký vào các giấy tờ mà bà H đưa. Chỉ tới khi ngân hàng tới xiết nợ thì ông T mới vỡ ra là bị lừa đảo. bà H lợi dụng sự cả tin và thiếu hiểu biết pháp luật của ông T để vay vốn tại ngân hàng bằng chính tài sản của gia đình ông T, thông qua Hợp đồng ủy quyền tài sản mà ông T đã bị lừa ký trước đó. Thời gian sau đó thì bà H vỡ nợ, không đủ khả năng chi trả, và đã mất tại thời điểm ngân hàng phát mại tài sản. Hiện tài sản đang đứng tên ông T, nên giờ ngân hàng chỉ biết đòi ông T phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ, vì giấy tờ sổ sách vay đều do ông T ký và ủy quyền. Vụ án này vẫn đang được tòa án thụ lý và 10 năm chưa có hồi kết.
Theo Tổng Giám đốc của một ngân hàng Thương mại tại Hà Nội xin được giấu tên cho biết: “Từ khi Thông tư 39 của ngân hàng nhà nước được ban hành, ngân hàng đã xây dựng các quy trình chặt chẽ hơn. Các hồ sơ vay cũng được kiểm duyệt gắt gao và qua nhiều khâu phê duyệt, nên tình trạng đảo nợ, vay hộ, vay ké cũng phần nào được kiểm soát chặt chẽ. Ngoài ra các hồ sơ trong diện nghi ngờ cũng được các phòng ban kiểm soát đặc biệt. Quy trình chặt chẽ hơn đồng nghĩa với việc phê duyệt khoản vay khó khăn hơn, nhưng nó cũng góp phần hỗ trợ cho ngân hàng tránh được những rủi ro nợ xấu, nợ mất khả năng thanh khoản”.

Minh họa (Nguồn interner)
Để làm rõ hơn về các thông tin liên quan đến hiện trạng này, Tiến sĩ Nguyễn Trí Hiếu chuyên gia kinh tế đã trả lời những vấn đề liên quan đến đảo nợ như sau:
Vấn nạn đảo nợ tại các Ngân hàng ở Việt Nam hiện nay?
“Hoạt động đảo nợ hay còn gọi là tái cơ cấu nợ là hoạt động bình thường trong ngành ngân hàng. Tôi đã sống ở Mỹ 30 năm và làm việc trong lĩnh vực ngân hàng bên đó, thì các Ngân hàng cũng tái cơ cấu nợ cho KH của mình. Thậm chí khách hàng đề nghị ngân hàng tái cơ cấu nợ cho họ. Tái cơ cấu nợ thay đổi điều kiện cho vay bao gồm lãi suất, tài sản thế chấp và tất cả các điều kiện khác khi cho vay.
Như một vài Doanh nghiệp vay vào thời điểm lãi suất cao, sau thời gian vay, lãi suất vay giảm hơn thì Doanh nghiệp sẽ yêu cầu Ngân hàng cơ cấu lại nợ để họ được hưởng suất thấp hơn. Hoặc một số Doanh nghiệp gặp khó khăn trong kinh doanh họ cần thời gian trả nợ lâu hơn dài hơn để đảm bảo được khả năng thanh toán, Doanh nghiệp đó sẽ đề nghị Ngân hàng hỗ trợ bằng cách tái cơ cấu lại nợ. Tái cơ cấu nợ trong ngành Tài chính ngân hàng là bình thường.
Tuy nhiên ở Việt Nam tái cơ cấu nợ thường được gắn với quan điểm tiêu cực hơn đó là đảo nợ. Đảo nợ ở Việt Nam theo nghĩa vay một món nợ mới để trả nợ cho một món vay cũ có nguy cơ là nợ xấu. Đảo nợ từ nợ xấu sang nợ tốt, đảo nợ theo Quy định của NHNN thì không được phép. Đảo nợ mang nghĩa tiêu cực hơn là cơ cấu lại nợ của các nước khác.
Theo biện luật của NHNN thì đảo nợ không phù hợp với Pháp lý. Nếu để cho các Ngân hàng đảo nợ xấu thành nợ tốt thì nó sẽ xóa dấu vết của nợ xấu trên sổ sách của Ngân hàng đồng thời loại trừ được hết các nợ xấu, các ngân hàng không cần phải trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu, từ đó làm đẹp con số về lợi nhuận cho Ngân hàng. Nên vấn nạn này cần phải được chấm dứt.
Người dân đang nhầm lẫn hai khái niệm cơ cấu nợ và đảo nợ. Cơ cấu lại thời hạn trả nợ là việc tổ chức tín dụng chấp thuận điều chỉnh kỳ hạn trả nợ, kéo dài thêm một khoảng thời gian trả nợ một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/hoặc lãi tiền vay của kỳ hạn trả nợ đã thỏa thuận (bao gồm cả trường hợp không thay đổi về số kỳ hạn trả nợ đã thỏa thuận), thời hạn cho vay không thay đổi. Cơ cấu nợ là một hoạt động bình thường, rất nhiều Ngân hàng trên thế giới và ở Việt Nam cũng vậy có thể thay đổi điều kiện đó để phù hợp với điều kiện kinh doanh của Doanh nghiệp và thời gian cho vay. Còn vấn nạn đảo nợ ở đây mang tính cách tiêu cực, đảo từ nợ xấu qua nợ tốt, đảo nợ ở đây không phù hợp với Quy định của Nhà nướcViệt Nam”.
Hệ lụy của vấn nạn đảo nợ đến hoạt động tín dụng và các rủi ro tiềm ẩn…?
“Vấn nạn đảo nợ sẽ làm cho nợ xấu của khách hàng biến mất, các món nợ của các ngân hàng đẹp hơn. Đảo nợ làm tăng lợi nhuận cho Ngân hàng, không cần phải trích dự phòng rủi ro, giúp cho sổ sách của Ngân hàng đẹp hơn thực tế. Đối với Khách hàng việc đảo nợ cũng làm cho Khách hàng gặp nhiều rủi do, phải thay đổi lại chính sách kinh doanh để lập lại khả năng trả nợ. Với các món vay mới từ đảo nợ sẽ gây chủ quan cả về phía Ngân hàng và khách hàng, dẫn đến nợ xấu từ các khoản vay mới vẫn có nguy cơ tiềm ẩn nhiều rủi ro…”

Kiểm soát vấn nạn đảo nợ của các ngân hàng hiện nay như thế nào?
“Năm 2020 dịch Covid bùng phát, để hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid -19, NHNN ban hành TT số: 01/2020/TT-NHNN có hiệu lựa kể từ ngày 13/3/2020, Thông tư này quy định về việc tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ nhằm hỗ trợ khách hàng chịu ảnh hưởng bởi dịch Covid – 19. Thông tư cho phép các ngân hàng không chuyển nhóm nợ, đây cũng là lỗ hổng để nhiều Ngân hàng không chuyển nhóm nợ cho Khách hàng của mình, nợ xấu trên sổ sách sẽ phản ánh không đúng, thấp hơn nhiều so với thực tế. Khi Ngân hàng không chuyển nhóm nợ thì đó là cách che giấu và không cần đảo nợ nữa bằng cách không chuyển nhóm nợ. Việc kiểm soát vấn nạn đảo nợ đã rất khó khăn, thông tư 01 ra đời cũng sẽ khiến cho công tác kiểm soát về mặt tín dụng của NHNN gặp nhiều khó khăn hơn nữa. Cơ quan Thanh tra, gian sát của NHNN cần phải nghiên khắc các vấn đề liên quan đến việc thực hiện thông tư 01, tránh việc để các ngân hàng lợi dụng thông tư 01 để che dấu nợ xấu, đồng thời xử lý nghiêm ngặt các trường hợp đảo nợ để không chuyển từ nợ xấu sang nợ tốt, che dấu nợ xấu."
|
Thông tư số: 01/2020/TT-NHNN là cần thiết cho nền kinh tế, cần thiết cho các Doanh nghiệp, nhưng nó sẽ có hiệu ứng ngược lại nếu các ngân hàng dựa vào thông tư này để làm thay đổi tình trạng nợ của Ngân hàng. Làm cho các Ngân hàng không nhìn nhận thực trạng của một số khách hàng khó khăn về tài chính, tô hồng sổ sách của ngân hàng, lơ là và theo dõi nợ.
|
Vấn nạn đảo nợ, nhìn chung là một vấn đề nan giải, cần rất nhiều sự nỗ lực của NHNN và ngành ngân hàng nói chung để làm sạch hơn hệ thống tín dụng. Xét về góc độ đạo đức, đảo nợ sẽ làm cho hệ thống tín dụng đen ngày càng có cơ hội phát triển, làm thay đổi bản chất cho vay của ngân hàng. Với việc đưa ra nhiều quy định, chính sách áp dụng, phần nào đó sẽ hỗ trợ Doanh nghiệp vượt ra các khó khăn nội tại và ổn định nền kinh tế. Tuy nhiên, chính sách nào cũng cần có thời gian để kiểm chứng sự hiệu quả đối với nền kinh tế, rất cần sự vào cuộc mạnh mẽ của các cơ quan thanh tra, giám sát NHNN để các chính sách, quy định đi vào thực tiễn một cách hiệu quả và thiết thực.
Theo Thúy Vũ/Doanh nghiệp & Thương hiệu
https://doanhnghiepthuonghieu.vn/van-nan-dao-no-va-nhan-dinh-cua-tien-sy-nguyen-tri-hieu-chuyen-gia-kinh-te-ve-thuc-trang-dao-no-hien-nay-tai-viet-nam.html